Đầu năm 1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng, quân và dân ta. Đây không chỉ là thắng lợi to lớn về chính trị, ngoại giao mà còn tạo ra cục diện mới trên chiến trường miền Nam, mở ra thời cơ quyết định cho cách mạng Việt Nam tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Sau Hiệp định Paris, trên địa bàn tỉnh Bình Phước có hai địa phương là Lộc Ninh và Bù Đốp được giải phóng hoàn toàn. Tháng 4/1973, Trung ương Cục miền Nam và Tỉnh ủy Bình Phước tổ chức hội nghị, thống nhất nhận định và khẳng định vị trí, vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng của Bình Phước. Đây là địa phương có vùng giải phóng hoàn chỉnh, đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; nằm trên trục chiến lược kết nối miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Đông Bắc Campuchia; có hành lang vận chuyển thông suốt với đường mòn Hồ Chí Minh, đủ điều kiện trở thành căn cứ chiến lược vững chắc của toàn miền Nam. Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Cục, trong hai năm 1973–1974, Bình Phước tập trung xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng tại hai huyện Lộc Ninh, Bù Đốp và 24 xã được giải phóng. Công tác xây dựng Đảng được đẩy mạnh, kết nạp thêm 164 đảng viên, nâng tổng số lên 575 đồng chí sinh hoạt tại 51 chi bộ. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, cùng hệ thống đoàn thể quần chúng như Mặt trận, phụ nữ, nông dân, thanh niên, thiếu niên tiền phong không ngừng phát triển. Lực lượng vũ trang tỉnh được củng cố toàn diện với hai tiểu đoàn bộ binh 203 và 208, một đại đội hỏa lực, hai đại đội đặc công; mỗi huyện có từ một đến hai đại đội bộ binh và các đội công tác. Phong trào dân quân du kích phát triển mạnh, chiếm 13,4% dân số. Trên khắp chiến trường, bằng các đợt tiến công liên tục của ba thứ quân, quân và dân ta từng bước đẩy chính quyền Sài Gòn vào thế phòng ngự bị động. Đến giữa năm 1974, Bình Phước nói riêng và toàn miền Nam nói chung đã tích lũy đầy đủ thế và lực cho những đòn tiến công quyết định. Trước thời cơ mới, từ ngày 30/9 đến 8/10/1974, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và thông qua phương án giải phóng miền Nam trong hai năm 1975–1976. Triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị, tháng 10/1974, Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy Miền họp, xác định kế hoạch chiến lược tại chiến trường miền Đông Nam Bộ: mở rộng và hoàn chỉnh các khu căn cứ cách mạng; nối liền hành lang vận chuyển từ biên giới đến duyên hải miền Trung; xây dựng thế trận liên hoàn bao vây Sài Gòn. Hướng tiến công chủ yếu được xác định là Đường 14 – Phước Long, với quyết tâm giải phóng Phước Long khi thời cơ chín muồi. Công tác chuẩn bị chiến dịch được giao cho tỉnh Bình Phước, với sự phối hợp của các đơn vị chủ lực Quân đoàn 4, Sư đoàn 3 và lực lượng vũ trang địa phương. Đường 14 – Phước Long là tuyến phòng thủ chiến lược trọng yếu ở hướng Đông Bắc Sài Gòn, nơi địch xây dựng hệ thống phòng ngự nhiều tầng, nhiều lớp với hơn 100 đồn bốt, kéo dài trên 100km. Tại đây, địch tập trung lực lượng lớn của Sư đoàn 5, bốn tiểu đoàn bảo an, một đại đội biệt kích, hàng chục trung đội phòng vệ dân sự, cùng xe cơ giới và pháo binh cỡ lớn từ 105 đến 155 ly, coi đây là “lá chắn thép” bảo vệ Sài Gòn từ xa. Trong bối cảnh đó, bên cạnh sự cố thủ của quân đội Sài Gòn, Mỹ vẫn chưa hoàn toàn từ bỏ ý đồ can thiệp trở lại miền Nam. Việc ta mở chiến dịch Phước Long đồng nghĩa với một phép thử chiến lược quan trọng: liệu Mỹ có quay lại bằng sức mạnh quân sự hay không. Để thăm dò phản ứng của địch và mở màn chiến dịch, đêm 12/12/1974, Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng lực lượng địa phương, đặc công và các đội công tác của tỉnh Bình Phước tiến công chi khu Bù Đốp “lưu vong”. Ngay trong đêm, ta đã làm chủ hoàn toàn chi khu. Ngày 13/12/1974, địch tổ chức phản công hòng chiếm lại vị trí này nhưng đã bị quân ta đánh bại. Cùng ngày, Trung đoàn 12 (Trung đoàn 165) thuộc Sư đoàn 7, được tăng cường một số đơn vị của Sư đoàn 3, phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh tiến công chi khu và quận lỵ Bù Đăng. Đến sáng 14/12, ta hoàn toàn làm chủ khu vực. Tiếp đó, quân ta tiến công căn cứ Bù Na trên Đường 14, nơi địch bố trí một tiểu đoàn bảo an và khoảng 500 dân vệ. Ngày 15/12, ta giải phóng Bù Na, phát triển lên ngã ba Đức Liễu, quét sạch các chốt ngoại vi Bù Đăng. Chỉ trong sáu ngày đêm (12–17/12/1974), quân và dân Bình Phước đã phá vỡ tuyến phòng thủ Đường 14, bức rút 60 đồn bốt, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch, thu 900 súng các loại, giải phóng hơn 14.000 dân, cắt đứt hoàn toàn tuyến đường bộ nối với Quân đoàn 3 ngụy. Hệ thống phòng thủ Phước Long bị rung chuyển mạnh, trong khi địch vẫn chưa kịp nhận diện đầy đủ ý đồ chiến lược của ta. Sau thắng lợi Bù Đăng – Bù Na, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tiến công chi khu Đồng Xoài – mắt xích then chốt trong hệ thống phòng thủ Đường 14. Ngã tư Đồng Xoài có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, là đầu mối nối các tuyến đường đi Chơn Thành, Thủ Dầu Một và là hành lang tiếp tế chủ yếu cho Phước Long. Rạng sáng 26/12/1974, sau loạt pháo kích dữ dội, quân ta đồng loạt tiến công chi khu Đồng Xoài. Đến 15 giờ cùng ngày, ta hoàn toàn làm chủ khu vực, tiêu diệt 160 tên địch, bắt sống 415 tên, thu nhiều vũ khí, trong đó có bốn khẩu pháo lớn và 30 xe quân sự. Các lực lượng tiếp tục phát triển tiến công, giải phóng đoạn đường từ Đồng Xoài đi Phước Vĩnh, cô lập hoàn toàn thị xã Phước Long. Trước tình thế địch rơi vào thế bị động và suy sụp, Bộ Tư lệnh Miền và Quân đoàn 4 quyết định mở đòn tiến công quyết định vào hệ thống phòng thủ Phước Long, gồm chi khu Phước Bình, căn cứ núi Bà Rá và thị xã Phước Long. Quân ta tổ chức đội hình hiệp đồng binh chủng, với sự tham gia của lực lượng chủ lực Quân đoàn 4, Sư đoàn 3, lực lượng vũ trang tỉnh, được tăng cường xe tăng và pháo binh hạng nặng, trong đó có pháo 130 ly. 5 giờ 30 phút ngày 31/12/1974, quân ta đồng loạt nổ súng tiến công chi khu Phước Bình và căn cứ Bà Rá. Đến 15 giờ cùng ngày, chi khu Phước Bình bị tiêu diệt hoàn toàn. Ngày 1/1/1975 – ngày đầu tiên của năm lịch sử – ta làm chủ đỉnh Bà Rá, mở đường tiến công vào thị xã Phước Long. Trận đánh diễn ra quyết liệt, giành giật từng mục tiêu. Ngày 4/1, địch tung lực lượng biệt kích dù phản công nhưng nhanh chóng bị đập tan. 19 giờ ngày 6/1/1975, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã Phước Long. Ngày 6/1/1975 đã trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân Bình Phước. Sau 26 ngày đêm chiến đấu liên tục, ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ lực lượng ngụy quân, ngụy quyền tại Phước Long; thu trên 5.000 súng các loại, trong đó có 16 khẩu pháo lớn; giải phóng hơn 50.000 nhân dân. Lần đầu tiên ở miền Nam, một tỉnh hoàn toàn do địch kiểm soát được giải phóng trọn vẹn. Chiến thắng Phước Long giáng đòn mạnh mẽ làm rung chuyển chính quyền Sài Gòn. Nguyễn Văn Thiệu không dám phản công tái chiếm, buộc phải thừa nhận thất bại. Đây là “đòn trinh sát chiến lược” đặc biệt quan trọng, giúp Bộ Chính trị đi đến kết luận mang tính quyết định: Mỹ không còn khả năng và ý chí quay lại can thiệp quân sự; ngụy quyền Sài Gòn đã suy yếu nghiêm trọng; Quân giải phóng đủ sức đánh chiếm và giữ vững các mục tiêu cấp tỉnh. Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Chiến thắng Phước Long mở ra tiền đề để cách mạng miền Nam thần tốc tiến lên, giành thắng lợi hoàn toàn.” Chỉ sau 1 tháng 28 ngày, ngày 4/3/1975, quân ta mở Chiến dịch Tây Nguyên, khởi đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Những thắng lợi liên tiếp ở Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Xuân Lộc đã mở toang cánh cửa phía Đông, tạo điều kiện để năm cánh quân tiến vào Sài Gòn, làm nên Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến thắng Phước Long mãi mãi là dấu son không phai mờ trong lịch sử dân tộc, là niềm tự hào của quân và dân Bình Phước, tiếp thêm niềm tin và sức mạnh cho các thế hệ hôm nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. TTDVTH Phước Long